CƠ CẤU SẢN PHẨM NHỰA ĐẦU RA TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Tin tức kinh tế
Oct 29, 2024
537
Ngành nhựa Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm, việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ các sản phẩm nhựa truyền thống sang các sản phẩm có giá trị gia cao hơn là một xu hướng tất yếu.
|
Sản phẩm Product |
Tỷ trọng Proportion |
Công nghệ chính Technology |
Nguyên liệu chính Material |
Sản phẩm chủ yếu Main products |
Đầu ra chính Main output |
|
Nhựa bao bì Packaging |
35% |
Công nghệ đùn thổi Extrusion Blow Molding
|
PE, PP, PET |
Bao bì màng mỏng, túi ni lông, chai nhựa PET Thin films, plastic bags, PETplastic bottles |
Doanh nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, và các hệ thống bán lẻ, siêu thị Food processing enteririses, beverage companies, and retait'sssarmarket systems |
|
Nhựa gia dụng Household |
22% |
Công nghệ ép phun Injection Molding |
PP, PS, ABS |
Các sản phẩm đồ gia dụng Household products |
Người tiêu dùng Consumers |
|
Nhựa xây dựng Construction |
24% |
Công nghệ ép đùn Extrusion Molding |
PE, PVC |
Ống nhựa xây dựng, vật liệu xây dựng bằng nhựa Construction plastic pipesplastic building materials |
Doanh nghiệp bất động sản, xây dựng, người tiêu dùng Real estate and construction companies, consumers |
|
Nhựa kỹ thuật Technical |
19% |
Công nghệ ép phụ Injection Molding |
PVC, PP, PU |
Các loại linh kiện Parts and accessories |
Các doanh nghiệp điện tử, điện lực, ô tô xe máy Electronics, power, automotive and motorcycle companies |
Cơ cấu sản phẩm nhựa đầu ra (Plastic products output structure)
Cơ cấu thị trường nhựa Việt Nam có sự thay đổi đáng kể theo chiều hướng chuyển dịch từ các mảng có giá trị gia tăng thấp sang các mảng sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn qua hai thập kỷ, rõ rệt hơn trong khoảng 4 năm trở lại đây. Nhựa bao bì vốn là thế mạnh của Việt Nam có số lượng Doanh nghiệp nhiều và chiếm tỷ trọng cao trong giá trị xuất khẩu sang các thị trường trên thế giới tương đương 31% vào năm 2025. Nhựa gia dụng sẽ thu hẹp rõ rệt xuống còn 17%. Hai phân khúc còn lại là nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật dự báo chiếm lần lượt 27% và 25% giá trị thị trường vào năm 2025. Cụ thể:
Nhựa bao bì: Phân khúc nhựa bao bì từng tăng trưởng mạnh nhờ tính ứng dụng cao với nhiều ngành hàng tiêu dùng (đặc biệt là ngành hàng F&B) cũng như được sử dụng phổ biến trong các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày. Thị trường thực phẩm đóng gói tại Việt Nam đạt mức tăng trưởng kép 9.5% trong giai đoạn 2018-2020, với mức tăng trưởng cao nhất ở nhóm thực phẩm làm từ sữa và bánh kẹo, đồ ăn vặt. Ngoài ra, thị trường các sản phẩm điện tử, chăm sóc nhà cửa cũng đạt mức tăng trưởng ấn tượng tạo động lực tăng trưởng cho mảng nhựa bao bì. Tính tiện lợi và bền bỉ của bao bì nhựa (bao gồm bao bì nhựa cứng và bao bì nhựa mềm) cũng giúp duy trì phân khúc sản phẩm này.
Tuy nhiên, phân khúc bao bì nhựa đang đối mặt với chiến dịch giảm rác thải nhựa (giảm sử dụng nhựa dùng một lần, thay thế túi nhựa bằng túi sinh học có thể phân hủy, tái chế nhựa, v.v) từ Chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như thay đổi nhận thức của người tiêu dùng về vấn đề môi trường và sức khỏe. Trong khi các sản phẩm nhựa bao bì ở Việt Nam được sản xuất tương đối thủ công và chất lượng chưa cao, các doanh nghiệp nhựa bao bì sẽ đối mặt với thách thức lớn trong thời gian tới, đó chính là lý do tỷ trọng phân khúc này sẽ giảm về 31% trong năm 2025.
Từ ngày 01/01/2024, Việt Nam sẽ chính thức áp dụng EPR cho nhóm ngành bao bì. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì thuộc 06 nhóm bao bì (Thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc, Phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, Chất tẩy rửa, chế phẩm gia dụng, nông nghiệp, y tế, xi măng) phải thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì đó theo tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc quy định.
Nhựa gia dụng: Thị trường nhựa gia dụng ở Việt Nam có thể nói đã ở giai đoạn bão hòa với tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2018-2022 chỉ đạt khoảng 4%, chủ yếu được sản xuất trong nước. Các doanh nghiệp trong nước (chiếm đa số) chủ yếu sản xuất nhóm sản phẩm này (đồ dùng gia đình, nội thất nhựa) với công nghệ đơn giản, không có nhiều cải tiến về mẫu mã và chất lượng sản phẩm trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc cao cấp và do đó có tiềm năng tăng trưởng tốt hơn ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, phụ thuộc nhiều vào hạt nhựa nhập khẩu (PE, PP, ABS), năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nhựa gia dụng Việt Nam có thể bị ảnh hưởng trong thời điểm hiện tại và thời gian tới khi bất ổn chính trị tác động lên giá dầu thế giới. Theo như trao đổi với các chuyên gia và các doanh nghiệp lớn trong ngành, công thức sản xuất chung cho đồ nhựa gia dụng vẫn sẽ phụ thuộc vào các loại hạt PP, PS, ABS, v.v., các doanh nghiệp trong ngành có xu hướng tập trung vào cải thiện chất lượng và mẫu mã hơn thay vì nghiên cứu về vật liệu nhựa mới. Vì những lí do trên, nhựa gia dụng được dự báo giảm về 17% tổng quy mô thị trường trong năm 2025.
Nhựa xây dựng: Phân khúc nhựa xây dựng được dự báo tăng trưởng tích cực, đạt tỷ trọng 27% quy mô thị trường vào năm 2025 nhờ dư địa của thị trường bất động sản, các hoạt động xây dựng dân dụng, cơ sở hạ tầng với nhiều dự án có quy mô lớn.
Việt Nam là quốc gia có giá trị ngành xây dựng tăng trưởng tích cực trong khu vực và thế giới, với tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2015-2019 trước dịch bệnh đạt 9.5%. Theo Tổng cục Thống kê dự báo, ngành nhựa xây dựng có tốc độ tăng trưởng trung bình 6.9%/năm trong 10 năm tới (theo BMI), cao hơn đáng kể mức 3.9% toàn cầu. Trong và sau dịch bệnh, việc đẩy mạnh đầu tư công và nỗ lực phát triển hệ thống nhà ở giá rẻ của Chính phủ được kỳ vọng sẽ hỗ trợ tăng trưởng của thị trường xây dựng cũng như nhựa xây dựng. Bên cạnh đó, việc giá trị hợp đồng ký kết chưa thực hiện trong giai đoạn dịch bệnh có thể đảm bảo doanh số xây dựng phục hồi trong giai đoạn dự báo.
Nhựa kỹ thuật: Đây là phân khúc sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao và phù hợp với chiến lược phát triển của Việt Nam. Thị trường nhựa kỹ thuật của Việt Nam còn mới và phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp nước ngoài thuộc các ngành sản xuất xe máy, thiết bị điện, điện tử đến từ Hàn Quốc và Nhật Bản như Honda, Canon, Samsung, do đó vẫn còn tập trung, chưa thâm nhập đủ rộng và sâu vào thị trường. Với số ít các doanh nghiệp hiện hữu trong phân khúc này và đang có xu hướng tăng về số lượng, quy mô trong 10 năm trở lại, thị trường nhựa kỹ thuật Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng, được kỳ vọng đạt tỷ trọng 25% vào năm 2025.
Đặc biệt, linh kiện cho ô tô vẫn cho thấy tiềm năng lớn nhờ tỷ lệ nguyên liệu nhựa trên trọng lượng ô tô tăng dần, nhất là đối với sản phẩm xe điện đang là xu hướng. Hơn nữa, nhờ sự phát triển các sản phẩm ô tô của Trường Hải, Thành Công, VinFast mà tỷ trọng các linh kiện nhựa kỹ thuật được sản xuất trong nước đang từng bước được nâng cao.
Ngoài ra, xu hướng chuyển dịch sản xuất sang Việt Nam của các doanh nghiệp FDI cũng hỗ trợ lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử. Chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ của Chính phủ cũng tạo điều kiện mở rộng thị trường này, tiêu biểu như Nghị định số 57/2021/NĐ-CP về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, Nghị quyết số 115/NQ-CP theo đó hình thành 5 trung tâm hỗ trợ kỹ thuật trên toàn quốc...
Nguồn: vpas
Hồng Uyên
Lưu ý
1. Các nhận xét trên chỉ đại diện cho ý kiến cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm của trang web này;
2. Khi sao chép các bài viết, vui lòng ghi rõ nguồn từ "VNPlas.com (www.vnplas.com)" và bao gồm tên tác giả. Việc sử dụng cho mục đích thương mại cần có sự ủy quyền từ tác giả và trang web;
3. Nếu có sự vi phạm bản quyền, vui lòng liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc gửi thư bằng văn bản đến công ty chúng tôi để được chuyển giao và xử lý.
Tin tức mới nhất

Việt Nam xuất siêu 24,31 tỷ USD. Điểm Sáng Tăng Trưởng và Định Hướng Tương Lai
Dec 10, 2024

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng vượt bậc
Sep 27, 2024

Chỉ số sản xuất công nghiệp của TPHCM tăng 3,4% trong tháng 9
Oct 02, 2024